ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN PHÒNG, CHỐNG DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI

1. Dịch tả lợn Châu Phi là gì?         Dịch tả lợn Châu Phi là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus African swine fever virus (ASFV) gây ra. Bệnh có đặc điểm lây lan nhanh trên loài lợn, ở tất cả các loại lợn với tỷ lệ chết cao, lên đến 100%. Bệnh lây truyền qua các đàn lợn thông qua việc tiếp xúc với máu, dịch nhầy của lợn bệnh.         2. Đặc điểm của dịch tả lợn Châu Phi:         ASFV là một virus DNA sợi kép, lớn, sao chép trong tế bào chất của tế bào bị nhiễm. ASFV lây nhiễm sang lợn nhà cũng như những con lợn rừng từ những con ve Ornithodoros có khả năng hoạt động như một vec-tơ (vật trung gian truyền bệnh). ASFV là virus duy nhất được biết đến với bộ gen DNA sợi kép được truyền bởi động vật chân đốt. Vi-rút gây ra bệnh gây chết ở lợn nhà. Một số chủng phân lập có thể gây chết động vật nhanh như một tuần sau khi nhiễm bệnh. Trong tất cả các loài khác, virus không gây bệnh rõ ràng. ASFV là loài đặc hữu của châu Phi cận Sahara và tồn tại trong tự nhiên thông qua một chu kỳ lây nhiễm giữa ve và lợn hoang. Căn bệnh này được mô tả lần đầu tiên sau khi những người định cư châu Âu đưa lợn vào các khu vực đặc hữu với ASFV.         Bệnh có đặc điểm lây lan, gây bệnh ở mọi lứa tuổi và ở mọi loài lợn (cả lợn nhà và lợn hoang dã). Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng, với tỷ lệ chết cao lên đến 100%.         Bệnh dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) do một loại vi rút có sức đề kháng cao trong môi trường gây ra. Lợn khỏi bệnh có khả năng mang vi rút trong thời gian dài, có thể là vật chủ mang trùng suốt đời, do vậy khó có thể loại trừ được bệnh nếu để xảy ra bệnh DTLCP.         Vi rút DTLCP được tìm thấy trong máu, cơ quan, dịch bài tiết từ lợn nhiễm bệnh và lợn chết bởi bệnh này. Lợn sau khi khỏi bệnh sẽ ở thể mãn tính, có thể mang vi rút suốt đời. Ngoài ra, ve mềm thuộc chi Ornithodoros là một vector sinh học trong tự nhiên.         Vi rút DTLCP có sức đề kháng cao, có thể tồn tại trong chất tiết, dịch tiết, trong xác động vật, trong thịt lợn và các chế phẩm từ thịt lợn như xúc xích, giăm bông, salami. Vi rút có khả năng chịu được nhiệt độ thấp, đặc biệt là trong các sản phẩm thịt lợn sống hoặc nấu ở nhiệt độ không cao, trong thời gian dài từ 3 – 6 tháng. Vi rút có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56°C trong 70 phút hoặc ở 60°C trong 20 phút. Vi rút sống trong máu đã phân hủy được 15 tuần; trong máu khô không được 70 ngày; trong phân ở nhiệt độ phòng được 11 ngày; trong máu lợn ở nhiệt độ 4°C trong 18 tháng; trong thịt dính xương ở nhiệt độ 39°C được 150 ngày; trong giăm bông được 140 ngày và ở nhiệt độ 50°C tồn tại trong 3 giờ.         Trong môi trường không có huyết thanh, vi rút có thể bị phá hủy ở pH< 3,9 hoặc ở pH > 11,5. Môi trường có huyết thanh, vi rút có thể tồn tại được ở pH = 13,4 trong 7 ngày; không có huyết thanh, vi rút có thể sống được 21 giờ.         Hóa chất để diệt vi rút DTLCP bao gồm ether, chloroform và hợp chất iodine hoặc sử dụng sodium hydroxide với tỷ lệ 8/1.000 hoặc formalin với tỷ lệ 3/1.000 hoặc chất tẩy trắng hypochlorite chứa chlorine 2,3% hoặc chất ortho-phenylphenol 3% nhưng phải duy trì thời gian 30 phút.         Hóa chất diệt ve mềm (vật chủ trung gian): Sử dụng các loại hiện nay.         Vi rút DTLCP lây nhiễm qua đường hô hấp và tiêu hóa, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các vật thể nhiễm vi rút như: chuồng trại, phương tiện vận chuyển, dụng cụ, đồ dùng, quần áo nhiễm vi rút và ăn thức ăn thừa chứa thịt lợn nhiễm bệnh hoặc bị ve mềm cắn.         3. Nguồn gốc, diễn biến của dịch tả lợn Châu Phi:         Năm 1921, bệnh dịch tả heo châu Phi lần đầu tiên xuất hiện tại Kenya, châu Phi và sau đó lây lan nhanh chóng, trở thành dịch bệnh địa phương tại nhiều nước châu Phi. Năm 1957, lần đầu tiên bệnh dịch tả lợn châu Phi được phát hiện và báo cáo tại châu Âu. Đến nay, dịch bệnh này đã xuất hiện ở nhiều nước châu Âu, trong đó có Armenia báo cáo bệnh xuất hiện vào năm 2007 và Azerbaijan vào năm 2008; loại bệnh nguy hiểm này cũng đã được báo cáo ở các nước châu Mỹ. Năm 2007, bệnh dịch tả heo châu Phi được báo cáo xảy ra ở dãy núi Caucasus giữa châu Âu và châu Á tại quốc gia Georgia. Đến nay, bệnh dịch tả lợn châu Phi là bệnh địa phương ở nhiều nước trên thế giới. Từ cuối năm 2017 đến nay, có 12 quốc gia (bao gồm: Trung Quốc, Liên bang Nga, Tiệp Khắc, Hunggari, Latvia, Moldova, Phần Lan, Rumani, Nam Phi, Ukraina và Zambia) báo cáo có Dịch tả lợn châu Phi.         Trong năm 2018, nhiều nước thuộc châu Phi, châu Âu và châu Á đã ghi nhận các vụ dịch bệnh tả lợn châu Phi ở các đàn lợn.         4. Dấu hiệu nhận biết:         *Triệu chứng của bệnh         Chẩn đoán lâm sàng         – Thể quá cấp tính (Peracute) là do vi rút có độc lực cao, lợn sẽ chết nhanh, không biểu hiện triệu chứng hoặc lợn sẽ nằm và sốt cao trước khi chết.         – Thể cấp tính (Acute) là do vi rút có độc lực cao gây ra, lợn sốt cao (40,5 – 42°C); trong 2 – 3 ngày đầu tiên, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu.         Lợn không ăn, lười vận động, ủ rũ, nằm chồng đống, lợn thích nằm chỗ có bóng râm hoặc gần nước.         Lợn có biểu hiện đau vùng bụng, lưng cong, di chuyển bất thường, một số vùng da trắng chuyển sang màu đỏ, đặc biệt là ở vành tai, đuôi, cẳng chân, da phần dưới vùng ngực và bụng, có thể có màu sẫm xanh tím.         Trong 1 – 2 ngày trước khi con vật chết, có triệu chứng thần kinh, di chuyển không vững, nhịp tim nhanh, thở gấp, khó thở hoặc có bọt lẫn máu ở mũi, viêm mắt, nôn mửa, tiêu chảy đôi khi lẫn máu hoặc có thể táo bón, phân cứng đóng viên có kích thước nhỏ, có chất nhầy và máu.         Lợn sẽ chết trong vòng 6 – 13 ngày hoặc có thể kéo dài đến 20 ngày. Lợn mang thai có thể sẩy thai ở mọi giai đoạn. Tỷ lệ chết cao lên tới 100%. Lợn khỏi bệnh hoặc nhiễm vi rút thể mạn tính thường không có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang vi rút DTLCP trong suốt cuộc đời.         – Thể á cấp tính (Subacute) gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình. Bệnh kéo dài 5 – 30 ngày, nếu máu ứ trong tim (cấp tính hoặc suy tim) thì lợn có thể chết, lợn mang thai sẽ sẩy thai, lợn chết trong vòng 15 – 45 ngày, tỷ lệ chết khoảng 30 – 70%. Lợn có thể khỏi hoặc bị bệnh mãn tính.         – Thể mãn tính (Chronic form) gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình hoặc thấp, chủ yếu được tìm thấy ở Angola và châu Âu. Triệu chứng kéo dài 2 – 15 tháng, có tỷ lệ chết thấp, lợn khỏi bệnh sau khi nhiễm vi rút gây nên bệnh sẽ trở thành dạng mãn tính.         Chẩn đoán phân biệt DTLCP và dịch tả lợn cổ điển         – DTLCP và dịch tả lợn cổ điển khó có thể chẩn đoán phân biệt nếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích. Vì vậy, trong mọi trường hợp, phải lấy mẫu xét nghiệm tại phòng thí nghiệm để xét nghiệm phát hiện mầm bệnh.         – Các bệnh khác cần được chẩn đoán phân biệt với bệnh DTLCP bao gồm các bệnh: Bệnh tai xanh (PRRS), đặc biệt là thể cấp tính; bệnh đóng dấu lợn; bệnh phó thương hàn; bệnh tụ huyết trùng; bệnh liên cầu khuẩn do Streptococcus sui; bệnh Glasser; bệnh ký sinh trùng đường máu do Trypanosoma gây ra; Hội chứng viêm da sưng thận do PCV2; bệnh giả dại ở lợn choai và bị ngộ độc muối.         Lấy mẫu xét nghiệm         – Lấy mẫu máu lợn đang sốt trong giai đoạn đầu, máu được chống đông bằng bổ sung EDTA 0,5%.         – Lách, các hạch bạch huyết, hạch amidan bảo quản ở nhiệt độ 4°C.         – Huyết thanh từ động vật khỏi bệnh lấy mẫu trong vòng 8 – 21 ngày sau khi lợn nhiễm bệnh.         * Theo Cục Thú y (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) dấu hiệu đặc trưng để nhận biết bệnh dịch tả lợn châu Phi là lợn có biểu hiện sốt rất cao trên 40 độ. Đối với một số bệnh khác thì chỉ xảy ra trên một số loại lợn, nhưng đối với bệnh dịch tả lợn châu Phi thì xảy ra với tất cả các loại lợn (nái, đực, con, choai); tỷ lệ chết rất cao vì chưa có vaccine điều trị.         Dịch tả lợn châu Phi là căn bệnh truyền nhiễm ở lợn và lợn rừng với tỷ lệ tử vong lên đến 100%. Dịch tả lợn châu Phi lây lan nhanh, ở phạm vi rộng và làm ảnh hưởng lớn đến phát triển chăn nuôi, an sinh xã hội và môi trường là rất lớn.         6. Dịch tả lợn châu Phi có lây sang người không?         Theo Bộ Y tế, dịch tả lợn châu Phi có tác nhân gây bệnh là virus nhưng khác hoàn toàn với bệnh tả ở người là một bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa do vi khuẩn. Kể cả khi người phơi nhiễm với sản phẩm động vật nhiễm bệnh không được nấu chín cũng không có nguy cơ lây nhiễm bệnh tả lợn sang người. Do đó người dân không cần hoang mang, tẩy chay thực phẩm là thịt lợn an toàn, không bị bệnh dịch và chế biến hợp vệ sinh.         Tuy nhiên, người dân cần nấu chín thịt lợn trước khi ăn, tránh đi vào vùng dịch, nếu phát hiện lợn chết thì phải báo ngay cho cơ quan chức năng. Một số chuyên gia nhận định, lợn mắc dịch tả châu Phi có thể mắc thêm những bệnh nguy hiểm khác như tai xanh, cúm…         7. Một số nội dung cần tập trung tuyên truyền, phòng chống bệnh dịch tả lợn châu Phi:         + Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các biện pháp phòng chống bệnh dịch tả lợn Châu Phi trên hệ thống loa truyền thanh của huyện, xã, thôn.         + Phân công cán bộ khuyến nông về cơ sở hướng dẫn cho người chăn nuôi thực hiện tốt các biện pháp sau đây:         * Về con giống:         Chỉ chọn mua lợn giống tại các cơ sở cung cấp con giống có uy tín, an toàn dịch bệnh. Con giống khi mua phải có nguồn gốc, lý lịch rõ ràng. Khi mua giống ở địa bàn ngoài tỉnh phải được kiểm dịch của cơ quan thú y.         Tuyệt đối không mua con giống trôi nổi trên thị trường, không nhập con giống không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng. Không mua, bán lợn và các sản phẩm từ lợn nhập lậu, không rõ nguồn gốc.         Lợn giống khi mua về cần tiến hành nuôi cách ly, khi thấy đảm bảo an toàn mới nuôi thả chung.         * Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng, cung cấp đầy đủ nguồn thức ăn, nước uống chất lượng tốt. Thường xuyên bổ sung các thuốc trợ sức trợ lực nhằm tăng sức đề kháng cho đàn lợn. Không sử dụng thức ăn thừa, thức ăn tận dụng chưa qua xử lý nhiệt chín.         * Hiện nay chưa có vắc xin phòng bệnh nên thực hiện tốt an toàn sinh học trong chăn nuôi là biện pháp cực kỳ quan trọng để ngăn chặn bệnh lây lan         Thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh chuồng trại chăn nuôi, máng ăn, máng uống, dụng cụ chăn nuôi. Định kỳ dùng thuốc sát trùng để phun tiêu độc khử trùng toàn bộ chuồng trại, trang thiết bị, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện ra vào trại, khu vực chăn nuôi.         Khơi thông cống rãnh, phát quang bụi rậm và các khu vực xung quanh trại nhằm tiêu diệt ruồi, muỗi, chuột và các loại côn trùng khác. Có các biện pháp ngăn chặn, tiếp xúc giữa lợn với các loài động vật hoang dã khác.         Trước khi vào khu chăn nuôi phải thực hiện đầy đủ các quy định về vệ sinh thú y, bảo hộ lao động (quần áo, ủng…) và tiêu độc khử trùng trước khi vào trại. Ở đầu mỗi trại phải có khay hoặc hố sát trùng và thay nước hàng ngày.         Kiểm soát chặt chẽ ra vào trại và khu vực chăn nuôi. Hạn chế tối đa khách tham quan và người lạ ra vào chuồng trại, khu vực chăn nuôi. Kiểm soát tốt nguồn thức ăn, phương tiện vận chuyển ra vào trại, cơ sở chăn nuôi.         Không vận chuyển lợn, thức ăn, chất thải hay vật dụng khác chung một phương tiện. Không mua thịt lợn, phủ tạng và sản phẩm có nguồn gốc thịt lợn chưa rõ nguồn gốc, chưa được kiểm dịch vào trại chăn nuôi làm thực phẩm.         Chủ động phòng bệnh bằng vắc xin đối với các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như dịch tả, tai xanh, lở mồm long móng… cho những đàn chưa tiêm phòng và tiêm phòng bổ sung cho những đàn sắp hết thời gian miễn dịch.         Khi phát hiện có lợn bệnh, nghi bị bệnh phải báo cáo chính quyền sở tại và cơ quan thú y để lấy mẫu xác định nguyên nhân và có biện pháp xử lý kịp thời. Tuyệt đối không được bán chạy, không giết mổ, vận chuyển lợn từ nơi đang có bệnh sang vùng không có dịch.         * Tuyên truyền, vận động người chăn nuôi thực hiện theo nguyên tắc “5 không”: Không giấu dịch; Không mua bán, vận chuyển lợn mắc bệnh, lợn chết; Không giết mổ, tiêu thụ lợn mắc bệnh, lợn chết; Không vứt lợn chết ra môi trường; Không sử dụng thức ăn dư thừa chưa qua xử lý nhiệt để nuôi lợn./.]]>

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on linkedin
  • Tin mới đăng